Thứ Năm, 14 tháng 5, 2020

TÌM HIỂU VỀ ĐỀ KHÁNG INSULIN




ulin là hocmon sản xuất bởi các tế bào beta của tuyến tụy. Thông thường một lượng nhỏ insulin được bài tiết sau mỗi bữa ăn để giúp vận chuyển glucose vào các tế bào của cơ thể, tạo ra năng lượng. Đề kháng insulin (kháng ngự insulin) là giảm khả năng đáp ứng với tác dụng của insulin, đặc biệt ở các mô cơ và mô mỡ. 
- Do các tế bào cần phải có glucose để tồn tại, cơ thể sẽ bù trừ sự đề kháng insulin bằng cách sản xuất ra thêm insulin. Hậu quả là sẽ có tình trạng tăng insulin máu và kích thích quá mức một số mô vẫn còn nhạy cảm với insulin.
- Theo thời gian, tình trạng này sẽ gây ra sự mất cân đối trong tương quan giữa glucose và insulin, có thể dẫn đến những rối loạn chuyển hóa bất lợi cho cơ thể.
- Tăng insulin máu và đề kháng insulin tác động lên tỉ lệ lipid của cơ thể, làm tăng đáng kể lượng triglycerides và sdLDL (phân tử lipoproteins nhỏ tỉ trọng thấp) trong máu, và giảm lượng HDL (lipoprotein tỉ trọng cao), là loại cholesterol hữu ích cho cơ thể. Nó cũng tăng nguy cơ hình thành huyết khối, tạo ra các phản ứng viêm, tăng dự trữ muối dẫn đến tăng huyết áp.
- Đề kháng insulin không phải là một bệnh hay một chẩn đoán đặc hiệu. Tình trạng này có thể đi kèm với các các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS), ĐTĐ typ 2, béo phì và bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu.
- Một số nhà nghiên cứu còn tin rằng có thể có sự liên quan giữa đề kháng insulin và bệnh ung thư. Tuy nhiên cơ chế chưa được hiểu rõ.
- Cần nhớ rằng nhiều bệnh nhân có những tình trạng kể trên nhưng lại không đề kháng insulin, và ngược lại, nhiều người bệnh đề kháng insulin nhưng lại không bao giờ diễn tiến đến các tình trạng bệnh lý này. Đề kháng insulin có thể góp phần vào sự hình thành và thúc đẩy các tình trạng bệnh lý kể trên trở nặng hơn.
- Hội chứng chuyển hóa và đề kháng insulin là hai thuật ngữ thường được dùng thay thế cho nhau để mô tả một số bất thường đi kèm với tăng đề kháng insulin và tăng sản xuất insulin, đồng thời nhận diện các biến đổi này như những yếu tố nguy cơ bệnh lý trong tương lai.
- Hội chứng chuyển hóa cơ bản là một nhóm phụ của đề kháng insulin, tập trung vào việc nhận diện chứng béo phì, những người ít hoạt động đang bắt đầu có những thay đổi về lượng lipid máu và rối loạn chuyển hóa glucose. Mục đích của sự nhận diện này là giúp các bệnh nhân có thể giảm thiểu các nguy cơ trên sức khỏe của mình bằng những thay đổi trong lối sống.
Nguyên nhân gây đề kháng insulin
- Nguyên nhân gây đề kháng insulin hiện chưa được biết rõ. Nó được xem một phần do các yếu tố di truyền, bao gồm cả yếu tố chủng tộc, và một phần do lối sống. Đa số bệnh nhân đề kháng insulin thường không có triệu chứng gì đặc hiệu. Trong hầu hết các trường hợp cơ thể “chung sống hòa bình” với nhu cầu tăng sản xuất insulin trong nhiều năm. Khi sản xuất insulin không còn đáp ứng được với yêu cầu, tăng đường huyết sẽ xảy ra. Khi lượng đường huyết đạt đến một mức độ cao cần thiết, đái tháo đường sẽ xuất hiện; lượng đường huyết cao sẽ gây tổn thương mạch máu ở nhiều cơ quan bộ phận, bao gồm cả thận.
- Đề kháng insulin kết hợp với đường huyết cao là những yếu tố nguy cơ hình thành ĐTĐ  type II. Những thay đổi về lipids máu tạo ra các mảng xơ vữa trong động mạch, dẫn đến nhồi máu cơ tim và đột quỵ. 
B-XÉT NGHIỆM
- Không xét nghiệm nào có thể trực tiếp phát hiện tình trạng đề kháng insulin. Bác sĩ cần phải xem xét, đánh giá toàn bộ bối cảnh lâm sàng của người bệnh, sau đó nghĩ đến tình trạng đề kháng insulin nếu bệnh nhân có tăng lượng  triglycerides và LDL, đồng thời với giảm HDL. - Các xét nghiệm cần được chỉ định bao gồm:
Glucose: Thường xét nghiệm glucose máu lúc đói, nhưng trong một số trường hợp, có thể cần chỉ định xét nghiệm dung nạp glucose (glucose tolerance test=GTT): làm nhiều xét nghiệm đường huyết trước và sau khi cho uống đường glucose vào những thời điểm nhất định. Mục đích của xét nghiệm dung nạp glucose là để nhận định xem bệnh nhân có những đáp ứng bất thường với glucose hay không.
+ Bộ mỡ máu (lipid profile): Đo lượng HDL, LDL, triglycerides, và cholesterol toàn phần. Nếu triglycerides tăng đáng kể, cần thực hiện đo trực tiếp lượng LDL (DLDL=direct measurement of the LDL).
+ Một trong những phương pháp thường dùng để phát hiện đề kháng insulin là dùng kiểu mẫu đánh giá  hằng định nội môi (homeostatic model assessment =HOMA). Phương pháp này đo lượng glucose và insulin trong máu sau đó dùng các phép tính để ước lượng chức năng của tế bào beta và độ nhạy với insulin.
- Các xét nghiệm khác có thể dùng để đánh giá đề kháng  insulin và cung cấp thêm thông tin bao gồm:
Insulin: Xét nghiệm lượng insulin lúc đói cho ra những kết quả rất thay đổi, tuy nhiên mức độ insulin thường tăng ở những người có đề kháng insulin đáng kể.
hs-CRP. Xét nghiệm này thường được dùng để đánh giá tình trạng viêm dẫn đến nguy cơ tim mạch. Hs-CRP có thể tăng trong đề kháng insulin.
+ sdLDL. Xét nghiệm này đo số lượng phân tử nhỏ lipoprotein tỉ trọng thấp (small dense low-density lipoprotein molecules).
+ Xét nghiệm dung nạp insulin (Insulin tolerance test=ITT). Xét nghiệm này được dùng để xác định sự nhạy cảm (hoặc đề kháng) đối với insulin, đặc biệt ở những bệnh nhân béo phì hoặc bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS). Xét nghiệm này thực hiện bằng cách truyền tĩnh mạch insulin, rồi kiểm tra lượng glucose và insulin nhiều lần sau đó.
- Các xét nghiệm ức chế insulin đặc hiệu (specific insulin suppression tests) được sử dụng để nghiên cứu việc đề kháng insulin, nhưng lại ít được chỉ định rộng rãi trong thực tế lâm sàng.
C-ĐIỀU TRỊ
- Việc điều trị kháng ngự insulin trước hết dựa trên những thay đổi về chế độ ăn và lối sống. Hiệp Hội ĐTĐ Mỹ (ADA) khuyến cáo giảm lượng cân dư thừa, luyện tập thể lực vừa phải và đều đặn, tăng lượng chất xơ trong khẩu phần để giảm lượng insulin trong máu và tăng độ nhạy của cơ thể đối với insulin. Giảm cân và luyện tập đều đặn sẽ có thể:
+ Giảm tăng huyết áp
+ Tăng độ nhạy với insulin
+ Giảm lượng triglyceride và LDL
+ Tăng lượng HDL
- Cần sự phối hợp giữa bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng để soạn ra kế hoạch điều trị và theo dõi hiệu quả trị liệu cho những bệnh nhân đã được xác định có kháng ngự insulin.
- Phối hợp điều trị bằng thuốc men để kiểm soát các bệnh lý và tình trạng bất thường khác đi kèm.
BS. ĐỒNG NGỌC KHANH - BV Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn
TAGGED
Different Themes
WRITTEN BY LOVELY
Aenean quis feugiat elit. Quisque ultricies sollicitudin ante ut venenatis. Nulla dapibus placerat faucibus. Aenean quis leo non neque ultrices scelerisque. Nullam nec vulputate velit. Etiam fermentum turpis at magna tristique interdum.

NO RELATED ARTICLE AVAILABLE

Share:
Continue Reading →

HỘI CHỨNG NGOẠI THÁP

Hội chứng ngoại tháp là thuật ngữ chỉ chung các rối loạn vận động liên quan đến hệ ngoại tháp. Hệ ngoại tháp là một bộ phận của hệ thống thần kinh có chức năng điều tiết các vận động cơ không chủ ý của cơ thể. Vậy đặc điểm và cách điều trị hội chứng ngoại tháp thế nào

HỘI CHỨNG NGOẠI THÁP LÀ GÌ

Hội chứng ngoại tháp là tập hợp những rối loạn vận động do tổn thương đường tháp được tạo thành bởi các sợi vỏ não-tủy sống từ nơron vận động trung ương.
Hội chứng ngoại tháp là tập hợp những rối loạn vận động do tổn thương đường tháp được tạo thành bởi các sợi vỏ não-tủy sống từ nơron vận động trung ương. Rối loạn này gây ra những triệu chứng điển hình là run, rung giật cơ, cứng cơ khớp, hay múa giật,…

NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HỘI CHỨNG NGOẠI THÁP

Rối loạn vận động ngoại tháp xảy ra khi một chất dẫn truyền thần kinh có tên là Dopamin trong não bị phong tỏa hoạt động. Nguyên nhân thường gặp nhất gây ra hiện tượng này là do tác dụng phụ của một số thuốc chống loạn thần. Bên cạnh đó còn có thể do các bệnh lý thoái hóa thần kinh, xơ cứng động mạch não, viêm não, u não, chấn thương, nhiễm virus, ngộ độc, thậm chí không rõ nguyên nhân.

TRIỆU CHỨNG CỦA HỘI CHỨNG NGOẠI THÁP

Hội chứng ngoại tháp có 4 dạng triệu chứng chính đó là: Triệu chứng Parkinson, Dystonia (rối loạn trương lực cơ), Akathisia (ngồi không yên) và rối loạn vận động Tardive (múa giật).
Triệu chứng Parkinson
Chúng bao gồm những triệu chứng rối loạn vận động giống như trong bệnh Parkinson, vì vậy còn được gọi là hội chứng Parkinson do rối loạn ngoại tháp. Những triệu chứng này bao gồm:
– Run: Thường gặp nhất ở tay tuy nhiên cũng có thể xảy ra ở các cơ miệng dẫn tới run môi.
– Cứng cơ: các cơ bắp và các khớp ở tay chân cứng đờ, khiến người bệnh khó hoạt động và di chuyển.
– Chậm vận động: các cơ bắp bị cứng khiến người bệnh vận động chậm chạp, khó nuốt, khó nói và khó biểu lộ cảm xúc trên khuôn mặt (khuôn mặt vô cảm hay mặt nạ).
– Khó giữ thăng bằng: người bệnh gặp nhiều khó khăn trong giữ thăng bằng và khó có thể đứng vững.
Triệu chứng Dystonia (rối loạn trương lực cơ)
Triệu chứng Dystonia hay phản ứng Dystonic là tình trạng một vùng cơ trong cơ thể đột nhiên bị cứng hoàn toàn (đóng băng) dẫn đến cảm giác rất khó chịu, buồn bực, đau đớn. Dystonia có thể gây ảnh hưởng đến tất cả các cơ bắp trong cơ thể, bao gồm các cơ cổ (còn gọi là tật vẹo cổ), cơ mắt (được gọi là oculogyric), cơ lưỡi, hàm, thậm chí là cả các cơ hô hấp, khiến người bệnh khó thở.
Triệu chứng Akathisia (ngồi không yên)
Triệu chứng Akathisia khiến người bệnh luôn có cảm giác bồn chồn, khó chịu khi ngồi yên, vì vậy họ buộc phải di chuyển liên tục. Chứng Akathisia cũng có thể khiến người bệnh luôn có cảm giác lo lắng và không thể thư giãn.
Rối loạn vận động Tardive (chứng múa giật)
Đây là hiện tượng người bệnh có những cử động bất thường xuất hiện đột ngột, nhanh, giật cục và không theo quy luật nào của các bộ phận khác nhau trong cơ thể. Triệu chứng này thường gặp ở môi, lưỡi, mặt, cổ, cũng như bàn tay và bàn chân, còn được gọi là chứng múa giật (Choreo-athetosis). Những triệu chứng này có xu hướng xuất hiện sau vài tháng, thậm chí vài năm sau khi sử dụng thuốc chống loạn thần.

ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG NGOẠI THÁP

Việc điều trị hội chứng ngoại tháp phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh và các triệu chứng mà người bệnh gặp phải. Các bước điều trị cơ bản bao gồm:
  • Cắt giảm liều các loại thuốc gây ra hội chứng ngoại tháp (nếu đang sử dụng) và thay thế bằng những loại thuốc khác.
  • Sử dụng các thuốc điều trị triệu chứng:
+ Điều trị hội chứng Parkinson: có thể sử dụng các thuốc kháng acetylcholin và nên bắt đầu với liều thấp nhất có thể cho đến khi cơ thể người bệnh có thể đáp ứng. Khi các triệu chứng đã giảm dần thì có thể giảm dần liều lượng và ngưng thuốc .
+ Điều trị Akathisia: Rối loạn vận động ngoại tháp dạng akathisia, lựa chọn đầu tiên thường là propranolol liều thấp. Một số loại thuốc khác như benzodiazepines cũng có hiệu quả trong điều trị triệu chứng akathisia. Thuốc kháng cholinergic có thể được sử dụng tuy nhiên chưa ghi nhận hiệu quả rõ rệt.
+Điều trị triệu chứng Dystonia: Phản ứng Dystonic là tình trạng cấp cứu y tế vì vậy người bệnh cần được đưa đến bệnh viện càng sớm càng tốt, đặc biệt khi ảnh hưởng đến các cơ vùng đầu, cổ hay khả năng hít thở của người bệnh. Các triệu chứng Dystonia có thể được thuyên giảm nhanh chóng và hiệu quả với một liều tiêm bắp thuốc kháng cholingergic, chẳng hạn như benztropine liều 1-2mg, lặp đi lặp lại mỗi 15-30 phút cho đến khi các triệu chứng không còn.
+ Điều trị rối loạn vận động Tardive
Share:
Continue Reading →